LẠM BÀN VỀ “VĂN HOÁ VÕ”

Đăng lúc: Thứ sáu - 17/08/2012 10:24 - Người đăng bài viết: kyson01
Múa kiếm

Múa kiếm

Tất cả những thành tựu của con người và những lĩnh vực đạt được của con người đều là văn hoá, trong đó có võ thuật cổ truyền được xem là nghệ thuật chiến đấu truyền thống (traditional martial arts) để dân tộc tồn tại và tiến hoá, để con người phát triển đỉnh cao của nhân cách, phẩm chất, đạt được lối sống cao thượng, thiện-mỹ, cuộc sống ổn định và văn minh.

LẠM BÀN VỀ “VĂN HOÁ VÕ”

                                            *Võ sư Trần Xuân Mẫn

      Hai từ “văn hoá” nghe rất quen, rất thường xuyên, hầu như ở khắp mọi nơi, nhưng văn hoá là gì (?) thì các nhà nghiên cứu văn hoá, các bậc đại nhân, đại trí cũng không có một định nghĩa chung.

      Có người nói: “Văn hoá được xem là toàn bộ những hoạt động sáng tạo của con người trong quá khứ cũng như trong hiện tại tạo thành những chuẩn mực - giá trị, thị hiếu và truyền thống, làm nên bản sắc riêng của mỗi cộng đồng dân tộc”.

      Có người nói: “Văn hóa là sản phẩm của loài người, được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội. Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội”.

      Theo Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá Liên Hiệp Quốc (Unesco) thì: “Văn hoá là một tập hợp các hệ thống biểu tượng, nó quy định thế ứng xử của con người và làm cho một số đông người có thể giao tiếp với nhau, liên kết họ lại thành một cộng đồng riêng biệt”.

      Rất... rất nhiều cách giải thích khác nhau nhưng tựu trung đều gặp nhau ở một điểm là không thể nói rạch ròi hết mức, hết ý nghĩa về văn hoá: “ Người ta không thể mô tả văn hoá, vì nó muôn mặt, muôn hình. Muốn cô đọng ý nghĩa văn hoá thành lời lẽ, thì cũng y như tay không bắt không khí; Ta sẽ thấy không khí ở khắp nơi, mà riêng trong tay ta thì chẳng nắm được gì” (theo hai nhà nhân chủng học Kroeber và Clyde Kluckholn).

      Như vậy, có “Văn hoá Võ” hay không?

      Có một thời, người ta hiểu “văn hoá” đồng nghĩa với “văn”. Hiểu như thế thì “võ” đối xứng với “văn hoá” như các trường hợp sau đây: Rừng văn-biển võ, Nhân văn-Thượng võ,  hoặc:

      Nghĩa bỉnh trung thiên vạn cổ cương thường chiêu Vũ liệt

      Đức huy Nam cực thiên thu hàn mặc hoán Văn quang

      (Nghĩa vững giữa trời muôn thuở cương thường soi gương Võ

      Đức ngời Nam cực nghìn thu hàn mặc sáng nền Văn).

      Nhưng cũng có lúc “võ” sánh đôi với “văn” khi văn được hiểu là văn hoá, như:Văn thiếu Võ là Văn nhu nhược, Võ thiếu Văn là võ bạo tàn, hoặc:

      Khán kiếm hào sinh đảm

      Độc thư hương đáo tâm

      (Ngắm kiếm sinh gan dạ

      Đọc sách hương vào lòng)

      Trong khi cố tâm tìm hiểu về vấn đề văn hoá và “văn hoá Võ” tôi tìm được hai “cách nói” về văn hoá, hiển thị rất rõ văn hoá Võ, của hai danh nhân như sau:

      Chủ tịch Hồ chí Minh cho rằng: “lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạophát minh đó tức là văn hóa”.

      Còn với Thủ tướng Phạm Văn Đồng: “Nói tới văn hoá là nói tới một lĩnh vực vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử... (văn hoá) bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh”

      Nói như trên thì tất cả những thành tựu của con người và những lĩnh vực đạt được của con người đều là văn hoá, trong đó có võ thuật cổ truyền được xem là nghệ thuật chiến đấu truyền thống (traditional martial arts) để dân tộc tồn tại và tiến hoá, để con người phát triển đỉnh cao của nhân cách, phẩm chất, đạt được lối sống cao thượng, thiện-mỹ, cuộc sống ổn định và văn minh.

      “Văn hoá Võ” có hai phần biểu hiện: Vật thể và Phi vật thể.

      Phần Vật thể được bảo quản, lưu truyền chủ yếu trong các gia tộc võ dòng, võ phái, bao gồm: võ đường, sân tập, binh thư, sách võ, binh khí, dụng cụ tập luyện nội, ngoại công phu (như: tạ sắt, bao cát, búa gỗ, bọc thiết sa, vòng thiết tuyến, trụ quấn dây dừa...), dụng cụ chữa trị chấn thương, trật đả (hủ đựng thuốc giầm rượu, băng vải, nẹp gỗ uốn nắn xương khớp...)

      Phần Phi vật thể được tâm truyền, khẩu truyền và truyền đạt trực tiếp bằng cách “cầm tay uốn nắn” giữa các thế hệ võ nghiệp, từ đời này sang đời khác, bao gồm: Các bài tập và phương pháp tập quyền cùng tập thập bát ban võ nghệ (18 môn binh khí gồm: côn, kiếm, siêu, đao, cung, kích, xỉ,...), các bài thuốc y võ và phương pháp chữa trị, các lễ lệ, lễ hội...

      - Bài tập võ cổ truyền, dù là tập tay không hoặc có sử dụng binh khí, đều có hai phần: “Thảo” và “Thiệu”. Thảo là các động tác được gắn kết với nhau thành “thế”, nhiều thế liên kết với nhau thành bài, nhằm mục đích rèn luyện thể lực, khả năng tự vệ, chiến đấu chống lại đối thủ. “Thiệu” là bài thơ có vần, điệu nhằm mô tả động tác của thảo, đôi khi gói ghém ý nghĩa nhân sinh quan của người sáng tác bài võ muốn truyền đạt lại cho đời sau. Có một số bài võ hay còn được  người đời sáng tác thêm “Phú” để ca ngợi.

      - Các bài thuốc y võ và phương pháp chữa trị, chủ yếu là uốn nắn, sửa gân, khớp, trật đả do bị chấn thương và bồi dưỡng sức lực trong quá trình tập luyện, thi đấu. Dù vậy, phương dược võ cổ truyền có nhiều bài rất độc đáo, tuyệt hảo trong việc cứu người khỏi tử vong, bệnh tật suốt đời do bị tai nạn.

      - Lễ lệ là những sinh hoạt truyền thống mang tính giáo dục, có nghi thức đặc thù của “làng” võ, không ghi thành văn tự nhưng theo lệ được các thế hệ võ nghiệp kế truyền từ đời trước sang đời sau. Lễ lệ gồm có: “Cúng Tổ” hằng năm để hội tụ những người cùng theo học một dòng võ, nhằm tỏ bày truyền thống uống nước nhớ nguồn, bàn bạc công việc phát triển võ phái; “Giỗ Thầy” hằng năm để anh em hội tụ về võ đường xưa nhằm tỏ lòng tôn sư trọng đạo và thắt chặc thâm tình giữa những người cùng học một người thầy; “Bái sư”, “Nhập môn” là lệ ra mắt thầy khi đến xin học, bằng một nghi lễ nhỏ, thường là cúng sân với hoa, quả, hương, đèn và con gà trống luộc (ngày nay rất ít võ đường còn duy trì tục lệ này). Ngoài các lễ nghi theo lệ như trên, thỉnh thoảng còn thấy lễ “Gác kiếm” do học trò tổ chức cho những vị thầy đắc thọ và có nhiều công đức trong làng võ, để bày tỏ lòng tri ân trước khi thầy rửa tay, ẩn dật, dứt bỏ chuyện thị phi, trở về cuộc sống điền viên, thanh tâm, quả dục cuối đời.

      - Lễ hội võ gắn liền với lễ hội dân gian, quy tụ đông đảo người tham gia, người xem và được tổ chức vào các dịp hội hè truyền thống của dân tộc và của từng địa phương. Những lễ hội võ thường thấy là: “Đấu võ” được tổ chức ở một quãng đất rộng, dựng võ đài cao quá đầu và thi thố võ thuật giữa từng cặp võ sĩ cân chạng hoặc không cùng chạng nhưng chấp nhận thách đấu (ngày nay võ sĩ được cân và xếp cùng hạng cân mới được thi đấu); “Đấu vật” là một hình thức đấu võ theo luật đặc thù, qui định chỉ được ôm nhau vật chớ không dùng tay, chân để đấm, đá vào nhau; “Đấu roi” là một hình thức tranh tài cao thấp bằng cách tay cầm roi, chân di chuyển, sử dụng sự khôn ngoan, khép léo, lanh lợi để đâm, bắt, câu, giật... giành điểm thắng lợi. Ngoài ra, “Biểu diễn võ thuật”, “múa lân sư rồng”, chơi “cờ người võ” cũng là những hình thức đóng góp của võ cổ truyền trong lễ hội dân gian, nhằm phô diễn tinh hoa võ thuật, thể hiện tinh thần thượng võ của dân tộc.

      Và...

      Trong “Văn hoá Võ”, cái nào là “Văn” hoá “Võ” và cái nào là “Võ” hoá “Văn”? Để suy nghĩ về vấn đề này, xin kể một câu chuyện có người sưu tầm được về "Cụ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu múa kiếm" như sau:

      Nhà thơ Tản Đà có lần nói với Nguyễn Tuân: “Con người ta sống ở đời, có hai thái độ đáng quí, một là làm thánh hiền, hai là làm hào kiệt, nhưng đem so sánh thì làm hào kiệt vẫn sướng hơn. Cái cuộc đời ấy mới là ồ ạt”.

      Chính vì nuôi mộng hào kiệt để chờ thời cơ đuổi Pháp cứu nước nên Tản Đà đã từng học múa kiếm với Đỗ Đình Đạt, con thứ tư của đô thống Cần Vương Đỗ Đình Thuật. Ông Tư Đạt đón nhà thơ và cả gia đình về ở ấp của mình, ấp Đồng Sành, huyện Cầu Rao, Hải Phòng. Sau khi đã học thành thục, Tản Đà thường cùng Tư Đạt múa kiếm vào những đêm trăng, cả hai đều mặc áo gấm. Tư Đạt có cặp song kiếm, tặng nhà thơ thanh Thư kiếm, còn giữ lại thanh Hùng kiếm.

      Một ngày đầu thu, Nguyễn Tuân cùng Nguyễn Xuân Huy, Vũ Trọng Can, Lê Tràng Kiều vào Hà Tri (Hà Đông) thăm Tản Đà.

      Hôm ấy, nhà thơ đãi khách một bữa rượu thật độc đáo có cá nướng Chuyên Chư. Nguyễn Tuân kể:

      “Tợp xong một hớp rượu có mùi khê khê, tay tôi gỡ cá ra từng mảnh nhỏ và nói với anh em: Trước khi gần Tần Thuỷ Hoàng để hành thích, có lẽ Chuyên Chư học nướng cá mấy năm ròng ở đất Ngũ Hồ cũng chỉ khéo đến thế này là cùng.

      Cả bàn tiệc cười xoà. Tản Đà cũng cười và giục mọi người cầm đũa: Anh em mình ăn ngay cho nóng, kệ lão ấy gỡ cá. Hắn có tài thì hắn phải làm đầy tớ cho bọn ta. Sự đời thường vẫn thế.

      Lúc tiệc gần tàn, tôi nằn nì với chủ nhân: Người ta đồn cụ múa kiếm có nhiều đường đẹp mắt. Anh em hôm nay muốn được xem.

      Tửu hứng đương nồng, Tản Đà chìu ý các bạn trẻ. Ông rút thanh kiếm từ ống tre dắt trên mái nhà cho các bạn trẻ xem và bảo người nhà lấy mấy tấm liếp bằng cót tre che kín mặt nhà trước lại, đóng kín cả hai tấm cửa sổ ở phía sau nhà trông ra vườn.

      Trong gian nhà tối lờ mờ, mọi người thấy một cái bóng trắng lượn múa trên hai bộ ngựa ghép sát lại. Ông Tản Đà mặc áo dài trắng, tiến lên, lùi xuống, bước đi gò theo phép tắc trông rất khắc khổ, tay thì múa kiếm, đỡ trên, gạt dưới... Tôi thấy ông Tản Đà hôm ấy múa tròn lắm, đường kiếm lúc nào cũng che kín quanh thân. Và trong những đoạn loạn đả, ông Tản Đà cũng có những miếng sả và tuốt rất lợi hại. Chả biết lúc thực sự phải cho đổ máu thì kiếm thuật sẽ như thế nào nhưng ở phút múa kiếm sau cơn rượu thì tôi thấy thi nhân đẹp lắm” ./.

                                                                          * TXM

Tác giả bài viết: Võ sư Trần Xuân Mẫn
Từ khóa:

con người

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Hội võ thuật cổ truyền Tỉnh Quảng Nam

                      

CHUẨN BỊ ĐÓN TẾT

CHUẨN BỊ ĐÓN TẾT Được thêm vào: 14:40 ICT Thứ năm, 07/02/2013 LỚP VÕ THUẬT MẦM NON VÕ ĐƯỜNG KỲ SƠN CŨNG ĐANG TẬP LUYỆN ĐỂ BIỂU DIỄN CỜ NGƯỜI CHUNG VỚI CÁC ANH CHỊ LỚN TUỔI TRONG DỊP TẾT QUÍ TỴ SẮP ĐẾN     ...

Liên hệ

Liên hệ võ đường Kỳ Sơn (Tổ đường): 

   51/2 Phan Châu Trinh , Hội An, Quảng Nam, Việt Nam

  +84983 114 769

 kyson160649@gmail.com

Bộ đếm

  • Đang truy cập: 17
  • Hôm nay: 716
  • Tháng hiện tại: 38911
  • Tổng lượt truy cập: 5087957

Liên Kết

Liên Đoàn Võ Thuật Cổ Truyền Việt Nam

---------------------------------

Từ trái qua phải: Gills Truong, Trần Xuân Mẫn, Huỳnh Hùng Mai


Vali nhựa cứng
Chuyên bán các loại vali nhựa cứng