MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA "QUYỀN THUẬT" VÀ "VŨ ĐẠO" HÁT BỘI

Đăng lúc: Thứ bảy - 19/01/2013 16:24 - Người đăng bài viết: kyson01
MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA "QUYỀN THUẬT" VÀ "VŨ ĐẠO" HÁT BỘI

MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA "QUYỀN THUẬT" VÀ "VŨ ĐẠO" HÁT BỘI

Diễn viên hát tuồng và vận động viên biểu diễn quyền thuật đều tùy theo trình độ, "tay nghề", kinh nghiệm, sự thông minh và năng khiếu của từng người mà đưa nghệ thuật vũ đạo, bài biểu diễn quyền thuật lên những cấp độ thăng hoa khác nhau.

MỐI TƯƠNG QUAN

GIỮA "QUYỀN THUẬT" VÀ "VŨ ĐẠO" HÁT BỘI

 

                                                                                       * Võ sư Trần Xuân Mẫn

      Quyền thuật võ Cổ truyền Việt Nam và Vũ đạo hát Bội (hát tuồng), gọi đơn giản là múa quyền và múa tuồng, đều là nghệ thuật "múa" nhưng không phải là múa Balê, múa dân gian... Nghệ thuật múa này có ngôn ngữ riêng, không có lời nói của nhân vật, chỉ có động tác hình thể.

      Giữa múa quyền và múa tuồng có mối tương quan khăng khít do các động tác vũ đạo hát bội, đặc biệt là của kép võ (diễn viên tuồng đóng vai võ tướng), được xây dựng trên nền tảng các động tác quyền thuật.

      Tuy vậy, múa tuồng không phải là múa võ. Mục đích của động tác múa võ là tự vệ (gồm công, thủ, phản, biến) còn mục đích của múa tuồng là biểu hiện các động tác của con người trong mọi sinh hoạt cuộc sống được khuếch đại và cách điệu hóa nhằm thể hiện cái đẹp. Người ta nói: Những động tác võ thuật là những "vật liệu cần thiết" để xây dựng nên những bộ múa tuồng.

      Theo các nhà nghiên cứu hát bội thì động tác hình thể của nghệ thuật múa tuồng có một số bộ đơn và một số bộ kép. Bộ đơn gồm có bộ mời, bộ đuổi, bộ ẩm (uống rượu), bộ cung kính, bộ vuốt râu, bộ nhảy thành, bộ khai diện, bộ đi, bộ ngồi... tuy được gọi là "bộ" nhưng chỉ là những động tác đơn giản được nghệ thuật hóa. Bộ kép như bộ mở cửa, bộ chèo thuyền, bộ lên ngựa, bộ khấu... gồm nhiều động tác liên kết, có tính ước lệ, tượng trưng cao hơn bộ đơn.

      Trong các bộ đơn nói trên, có một số bộ tương quan với động tác múa võ trong một số thảo bộ (bài quyền) như:

      - Bộ Vuốt râu tương quan với những động tác của đoạn "Xung thiên đề đao" trong các bài đại đao: Siêu Xung Thiên, Thanh Long Đao, Siêu Ông,

      - Bộ Khai diện tương quan với các động tác của đoạn "Tàng nhan hổ" trong bài Lão Mai Quyền,

      - Bộ Nhảy thành tương quan với các động tác của đoạn "Đồng tử đăng thành" trong bài Thái Sơn Côn, của các đoạn "Đả sát túc", "Thối thủ nhị linh" trong bài Ngọc Trản Quyền,

      - Bộ Cung kính tương quan với các động tác "Bái Tổ" của hầu hết các thảo bộ.

      Trong các bộ kép nói trên, có một số bộ tương quan với múa võ như:

     - Bộ Mở cửa tương quan với các động tác của các đoạn "Hoành tả tọa, bạch xà loang lộ", "Hoành hữu tọa, bạch xà loang lộ" trong bài Ngọc Trản Quyền,

    - Bộ Lên ngựa tương quan với các động tác của một số đoạn trong các bài Đoản côn, Phụng Hoàng Quyền...

      Tuy nhiên, trong các bộ kép múa tuồng chỉ có một hoặc hai động tác cuối là "vận dụng" động tác võ thuật.

     Ngoài các bộ đơn, bộ kép, nghệ thuật (gọi là "kỹ thuật" vẫn đúng) múa tuồng còn có một số động tác cơ bản.

     Theo "Tuồng Quảng Nam" của Sở Văn hóa-Thông tin tỉnh Quảng Nam được xuất bản vào năm 2001 do một số nhà nghiên cứu Tuồng biên soạn thì nhà biên đạo Từ Bích Hoàng (Triều Tiên) đã khẳng định: Múa Tuồng, về cơ bản có mười bốn động tác. Sau đó, nhà biên đạo nữ của Liên Xô sang nghiên cứu Tuồng đã kết luận: Nếu xếp cho gọn thì múa Tuồng gồm bảy động tác cơ bản. Trên cơ sở đó, Tuồng được xây dựng để giảng dạy cho học sinh ở Quảng Nam gồm có mười động tác: Năm động tác tay là Xoan, Xỏ, Bọc, Úp, Guộn và năm động tác chân là Cầu, Ký, Bê, Siếng, Nhảy. Những động tác cơ bản này có nhiều điểm tương đồng với những động tác của Bông pháp, Thủ pháp, Tấn pháp, Bộ pháp trong Căn bản công quyền thuật và một số động tác đặc trưng của Võ cổ truyền dân tộc.

     "Xoan" là ngửa bàn tay, đưa từ trước ngực mình ra phía khán giả, tương đồng với  động tác "dâng chén ngọc" trong thảo "Ngọc Trản Quyền"

      "Xỏ" là hai bàn tay đưa từ ngoài vào, chéo nhau trước ngực trước khi chuyển sang một động tác khác, tương đồng với động tác bắt chéo hai tay trước ngực trước khi thực hiện "Mở kép","Khép kép" của Bông pháp.

      "Bọc" là hai tay ghép lại, chần xuống, đỡ một miếng đánh của đối phương, tương đồng với đòn "Hạ chưởng" của Thủ pháp.

      "Úp" là hai bàn tay để úp hai bên thân, chân rùn xuống để chuyển tiếp bộ nhảy, bộ tiến, tương đồng với thế "Kỵ mã" trong Tấn pháp.

      "Guộn" là áp hai lưng bàn tay vào nhau, các ngón tay chỉ xuống, rồi guộn vào trong ngực cho hai bàn tay ngửa lên, tương đồng với động tác xoắn cổ tay, chuyển chưởng (bàn tay mở) thành quyền (bàn tay nắm).

      "Cầu" là một chân đứng thẳng, chân kia co lên đưa về phía chân đứng, bàn chân ngửa lên, tương đồng với thế Kim Kê của Tấn Pháp nhưng có phần biến tấu là bàn chân ngửa lên và chân co nằm ngang.

      "Ký" là một bàn chân chạm nhẹ mũi vào gót bàn chân kia đang đứng thẳng để rồi chuyển tiếp sang động tác khác, tương đồng với kỹ thuật nhập chân chuyển bộ của Bộ pháp.

      "Bê" (Phải mang hia, có hai hình thức: Bê đứng và bê ngồi) là di chuyển tới hoặc sang hai bên trong tư thế đứng hoặc ngồi, không dở chân lên khỏi mặt đất, chỉ dùng kỹ thuật lắc cổ chân để lướt từng chút một như thuyền lướt trên mặt nước. Động tác này tương đồng với kỹ thuật lắc chân để xoay người sau khi đá song phi, một chân rơi xuống trước làm trụ và lắc để xoay người 180 độ rồi hạ chân còn lại xuống đất. Trong các bài sử dụng binh khí như Thanh Long đao, đoản côn (tức côn Tề mi) thường có những động tác "lắc xoay" này.

      "Nhảy" có một số động tác như nhảy thành, nhảy lên ngựa, nhảy ngồi, có nhiều nét tương đồng với các động tác nhảy lạc mã, nhảy tọa ... trong võ thuật.

      Ngoài ra, còn có động tác thuộc bộ chân là Siếng, không có mối tương quan với động tác võ thuật nên tôi không trình bày cụ thể ở đây.

      Về hình thức múa, sự phối hợp giữa các bộ đơn, bộ kép, giữa các động tác tay (xoan, xỏ, bọc, ép guộn), các động tác chân (cầu, ký, bê, nhảy) của múa tuồng và sự phối hợp giữa bông, thủ, cước, bộ, thân pháp của múa võ cổ truyền đều tuân thủ những nguyên tắc như nhau. Những nguyên tắc đó là:

- Hầu hết các động tác tay di chuyển theo đường vòng cung, vòng tròn.

        - Luôn giữ sự cân đối về cơ thể và thế đối xứng giữa hai tay, giữa tay với chân (một cao thì một thấp, một trái thì một phải, một trên thì một dưới).

      - Động tác mô phỏng chân thực, không nghịch lý, múa tay không hay múa có binh khí cũng vậy (Gươm thì đâm, chém. Búa thì bổ...)

      Nói đến những động tác tương đồng, không thể quên một số động tác không được xếp vào "động tác cơ bản múa tuồng", "động tác căn bản công võ thuật" như ở trên nhưng trong nghệ thuật múa tuồng và múa võ thường thấy diễn ra. Đó là giậm chân và vỗ lưng bàn tay này vào lòng bàn tay kia.

      Điểm khác biệt rõ rệt về việc thực hiện động tác như nhau mà hai bộ môn múa tuồng và múa võ có cách thể hiện khác nhau là "Động tác múa võ có nhịp độ dứt khoác, sắc gọn, còn động tác múa tuồng thì phô diễn kéo dài, nhấn nhá phối hợp với các động tác ở mặt, mắt, môi, vai...". Điều này không  khó hiểu, bởi vì múa của nghệ thuật tuồng không chỉ là động tác hình thể mà còn đi sâu thể hiện tâm hồn, tình cảm của nhân vật. Ví dụ trong tuồng cổ Sơn Hậu, ở lớp Đổng Kim Lân kéo binh mã đến phá thành của tướng giặc Tạ Ôn Đình, khi thấy mẹ mình bị giặc treo trên thành, bên dưới đốt rơm và cỏ khô cháy hừng hực thì xuống ngựa than khóc. Tạ Ôn Đình cho lính phóng loa kêu gọi Đổng Kim Lân đầu hàng, nếu không thì sẽ thiêu sống Đổng Mẫu. Mặc dù nghe mẹ gào to, bảo Kim Lân đừng khóc, hãy lên ngựa tiến quân phá thành giặc cho mau: "Giặc có đốt mẹ mà con tiến quân thì lửa càng cháy, mẹ càng mát lá gan". Dù vậy, Kim Lân không thể để mẹ phải chết, trong lòng ông nổi lên sự dằn vặt, đau đớn và cuối cùng quyết định xin quay về Sơn Hậu, từ biệt ấu quân rồi quay lại đầu hàng để cứu mẹ. Sau nhờ sự giúp đỡ của Nguyệt Hạo, quân của Đổng Kim Lân đã chiếm được thành giặc, cứu mẹ của Kim Lân.

      Ở đoạn tuồng trên, trong lòng Kim Lân ngổn ngang trăm mối, khi lên ngựa trở về Sơn Hậu, Đổng Kim Lân hát:

      "Day ngọn cờ lui khỏi Tạ dinh

       Gượng lên ngựa trông chừng Sơn Hậu.

      Sơn Hậu phăng phăng lối cũ,

      Đoái tạ thành lụy đổ dường mưa."

      Câu hát "gượng lên ngựa" đã cho thấy động tác lên ngựa ngập ngừng, yếu đuối của Kim Lân như thế nào so với động tác "lên ngựa" mạnh mẽ, dứt khoác của một võ sĩ múa quyền ở đoạn đầu thảo bộ "Thanh Long Đao", sau các động tác vuốt râu, tuốt đại đao ra khỏi vỏ. Tại sao vậy? Tại vì Đổng Kim Lân lên ngựa phải lột tả nỗi thống thiết của một võ tướng lâm vào đường cùng theo kịch bản của vở tuồng Sơn Hậu, còn võ sĩ múa quyền lên ngựa không bị gò bó vào yêu cầu nào về tâm trạng mà chỉ việc tập trung thể hiện sự dũng mãnh, phấn chấn để lột tả "cái hồn" của bài quyền.

      Có một vấn đề cũng cần nói thêm là từ những năm 1960, khi hát bội không còn thu hút được khán giả, bộ môn nghệ thuật mới là cải lương Hồ Quảng đã ra đời tại miền Nam.

      Ngoài các màn vũ đạo công phu của kịch Bắc Kinh và Quảng Đông như múa giáo, múa thương, múa cờ, lia, chạy gối, quăng cuốn, nhảy..., các động tác võ thuật cổ truyền dân tộc đã được khai thác, cách điệu, đưa vào sử dụng, tạo nên nét độc đáo một thời của cải lương Hồ Quảng.

      Càng về sau, khuynh hướng Việt hóa vũ đạo cải lương Hồ Quảng càng phát triển khi các vở diễn theo tuồng tích Tàu như "Phạm Lãi-Tây Thi", "Võ Tòng sát tẩu"... được thay thế dần bằng các vở lịch sử Việt Nam như "Dưới cờ Tây Sơn" (1976), "Thanh gươm và nữ tướng" (1979), "Lý Thường Kiệt" sau dựng hoành tráng thành "Câu thơ yên ngựa" (1982)...

      Vũ đạo hát bội và Quyền thuật võ Cổ truyền Việt Nam là những môn học có bài bản, phương pháp, được dạy theo từng bài, từng lớp, từ những động tác dễ đến những động tác khó, từ đơn giản đến phức tạp.

      Diễn viên hát tuồng và vận động viên biểu diễn quyền thuật đều tùy theo trình độ, "tay nghề", kinh nghiệm, sự thông minh và năng khiếu của từng người mà đưa nghệ thuật vũ đạo, bài biểu diễn quyền thuật lên những cấp độ thăng hoa khác nhau.

      Tìm hiểu, nghiên cứu sâu sắc Võ cổ truyền dân tộc, chúng ta càng thấy rõ Võ cổ truyền Việt Nam có mối tương quan với nhiều lĩnh vực văn hóa, góp phần làm nền tảng, xây dựng cho nhiều bộ môn nghệ thuật khác như múa lân sư rồng, thi đấu cờ người võ, biểu diễn trống hội, vũ đạo hát bội, cải lương và cải lương Hồ Quảng..., nên không lạ gì khi biết rằng trong thời gian gần đây có nhiều cơ quan và các vị lãnh đạo ngành Văn hóa, Thể dục thể thao quan tâm đến vấn đề bảo tồn và tôn vinh Võ cổ truyền Việt Nam là di sản văn hóa của dân tộc ./.

                                                                                                          * TXM

Tác giả bài viết: võ sư Trần Xuân Mẫn
Từ khóa:

n/a

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Hội võ thuật cổ truyền Tỉnh Quảng Nam

                      

CHUẨN BỊ ĐÓN TẾT

CHUẨN BỊ ĐÓN TẾT Được thêm vào: 14:40 ICT Thứ năm, 07/02/2013 LỚP VÕ THUẬT MẦM NON VÕ ĐƯỜNG KỲ SƠN CŨNG ĐANG TẬP LUYỆN ĐỂ BIỂU DIỄN CỜ NGƯỜI CHUNG VỚI CÁC ANH CHỊ LỚN TUỔI TRONG DỊP TẾT QUÍ TỴ SẮP ĐẾN     ...

Liên hệ

Liên hệ võ đường Kỳ Sơn (Tổ đường): 

   51/2 Phan Châu Trinh , Hội An, Quảng Nam, Việt Nam

  +84983 114 769

 kyson160649@gmail.com

Bộ đếm

  • Đang truy cập: 28
  • Khách viếng thăm: 27
  • Máy chủ tìm kiếm: 1
  • Hôm nay: 1835
  • Tháng hiện tại: 28962
  • Tổng lượt truy cập: 4867033

Liên Kết

Liên Đoàn Võ Thuật Cổ Truyền Việt Nam

---------------------------------

Từ trái qua phải: Gills Truong, Trần Xuân Mẫn, Huỳnh Hùng Mai