CÁC LOẠI BINH KHÍ LỢI HẠI DƯỚI THỜI CÁC CHÚA NGUYỄN

Đăng lúc: Thứ sáu - 10/08/2012 15:33 - Người đăng bài viết: kyson01
Bàn thờ nỏ thần

Bàn thờ nỏ thần

Trên các chiến trường trong cuộc chiến sinh tồn và mở mang bờ cõi về phương Nam, khi mà những loại vũ khí cơ giới còn rất thô sơ, các loại binh khí cổ truyền của dân tộc được quân đội các chúa Nguyễn chọn lọc, cải tiến để sử dụng đã vô cùng lợi hại, góp phần to lớn mang lại những chiến thắng vinh quang, lừng lẫy một thời

CÁC LOẠI BINH KHÍ LỢI HẠI

DƯỚI THỜI CÁC CHÚA NGUYỄN

 

                                                                                               * Võ sư Trần Xuân Mẫn

      Lịch sử nước ta có thời kỳ sinh ra các Chúa ở hai miền Nam-Bắc. Chúa Trịnh lấy cớ phò vua Lê nhưng thực sự là tiếm quyền ở phương Bắc còn các Chúa Nguyễn thì thay nhau truyền ngôi mở rộng đất phương Nam.

      Thời kỳ đó có mầm mống bắt đầu từ đời vua Lê Uy Mục (1505-1509), có thể sơ lược như sau:

      Sau mười năm kháng chiến chống quân Minh (1418 – 1427), Lê Lợi đã lãnh đạo nghĩa quân quét sạch quân thù ra khỏi lãnh thổ, lên ngôi năm Mậu Thân (1428) xưng Lê Thái Tổ, niên hiệu Thuận Thiên, đặt tên nước là Đại Việt mở đầu cho nhà Hậu Lê và thời kỳ thống nhất đất nước 1428-1527.

      Nhà Lê làm vua được 360 năm, truyền ngôi được tám  đời. Trong tám đời vua đó có Lê Thánh Tông (1460-1497) là vị vua anh minh, tài ba lỗi lạc, có công sửa đổi hủ tục, mở mang văn học, sai Ngô Sĩ Liên làm bộ Đại Việt sử ký, thân chinh đánh Chiêm Thành mở mang bờ cõi đất nước rộng lớn xuống phương Nam.

      Rất tiếc là từ đời vua Lê Uy Mục (1505-1509) về sau cơ nghiệp nhà Lê mỗi ngày suy tàn dần do các vua say đắm tửu sắc, chơi bời xa xỉ, giết hại, thoán đoạt lẫn nhau, làm điều bạo ngược, giặc giã nổi lên, quyền bính đều nằm trong tay cường thần.

      Lợi dụng tình thế đó, năm 1527 quyền thần Mạc Đăng Dung bắt các quan nhà Lê thảo bài chiếu truyền ngôi cho nhà Mạc. Dù các ông vua cuối đời nhà Lê suy đồi nhưng lòng dân vẫn chưa muốn dứt nhà Lê. Một số đại thần trung thành với nhà Lê không chịu phục tùng nhà Mạc, khẳng khái chống đối ra mặt đều bị Mạc Đăng Dung bắt giết.

      Lúc đó, Nguyễn Kim (quan Hữu vệ Điện tiền tướng quân An Thanh Hầu dưới triều Lê) trốn sang Lào tìm tôn thất nhà Lê là Lê Duy Ninh đưa về nước dựng lên làm vua hiệu Lê Trang Tông, đặt hành điện ở Thanh Hoá, được gọi là Nam triều để phân biệt với Bắc triềucủa nhà Mạc. Nhà Lê làm vua nhưng binh quyền đều nằm trong tay Nguyễn Kim. Khi Nguyễn Kim mất, con rể cuả ông là Trịnh Kiểm lên thay. Khi Trịnh Kiểm mất, con của Trịnh Kiểm là Trịnh Tùng nắm hết quyền bính, càng ngày càng lộng hành (giết vua Lê Anh Tông, đưa con của Anh Tông mới 7 tuổi lên ngôi lấy hiệu Thế Tông để dễ khuynh loát triều chính). Từ đây Trịnh Tùng đưa quân ra Bắc đánh phá nhà Mạc sáu lần nhưng không có lần nào được toàn thắng. Nhà Mạc cũng đem quân vào đánh Thanh Hoá hơn mười phen, phen nào cũng thua phải rút quân về. Tháng giêng năm Nhâm Thìn (1592) Trịnh Tùng diệt nhà Mạc, chấm dứt cảnh nội chiến hai triều Nam-Bắc phân tranh.

      Diệt được nhà Mạc, thế lực của Trịnh Tùng càng lớn hơn. Năm 1599 Trịnh Tùng tự xưng Đô nguyên suý Tổng quốc chính Thượng phụ Bình An Vương, cấp bổng cho vua được thu thuế 1.000 xã và cấp 5.000 lính túc vệ. Mọi việc đặt quan, thu thuế, bắt lính, trị dân đều thuộc quyền họ Trịnh. Từ đó họ Trịnh cứ thế tập làm Chúa.

      Khi Nguyễn Kim bị đánh thuốc độc chết, Trịnh Kiểm lên thay. Trịnh Kiểm sợ con của Nguyễn Kim là Nguyễn Uông tranh quyền nên kiếm chuyện giết đi. Người con trai thứ hai của Nguyễn Kim là Nguyễn Hoàng sợ Trịnh Kiểm ám hại nên xin vào trấn đất phía Nam. Năm 1558 Trịnh Kiểm tâu với vua Lê Anh Tông cho Nguyễn Hoàng vào trấn đất Thuận Hoá. Bấy giờ binh lính và thường dân ở đất Thanh, Nghệ đưa gia đình theo Nguyễn Hoàng vào xã Ái Tử, huyện Đăng Xương, tỉnh Quảng Trị rất đông. Năm 1569 Nguyễn Hoàng lại được giao quyền trấn nhậm cả đất Thuận Hoá và Quảng Nam. Nguyễn Hoàng là người khôn ngoan, có lòng nhân đức, thu dụng hào kiệt, yên ủi nhân dân nên lòng người ai cũng mến phục. Từ khi trấn nhậm phía Nam, Nguyễn Hoàng theo lệ nộp thuế hằng năm cho vua Lê là 400 cân bạc, 500 tấm lụa. Nguyễn Hoàng cũng nhiều phen mang quân giúp họ Trịnh đánh họ Mạc lập công to. Tuy nhiên, ngoài mặt là thế nhưng thấy họ Trịnh ngang tàng, lộng quyền, xưng Chúa ở phương Bắc nên họ Nguyễn cũng xưng Chúa ở phía Nam.

      Từ Nguyễn Hoàng trở về sau, các chúa Nguyễn thế truyền và mở mang đất nước về phương Nam như sau:

      1- Chúa Tiên Nguyễn Hoàng (1558 – 1613), lấy đất Chiêm Thành lập ra phủ Phú Yên, thọ 89 tuổi.

      2- Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (1613 – 1635), thọ 73 tuổi.

      3- Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan (1635 – 1648), thọ 48 tuổi.

      4- Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần (1648 – 1687), lấy đất Chiêm Thành lập ra phủ Ninh Hoà và phủ Diên Khánh tức đất Khánh Hoà ngày nay, thọ 68 tuổi.

      5- Chúa Nghĩa Nguyễn Phúc Trăn (1687 – 1691), lập phủ ở Phú Xuân, thọ 43 tuổi.

      6- Quốc Chúa Nguyễn Phúc Chu (1691 – 1725), lấy hết nước Chiêm Thành nay là đất Bình Thuận và lấy đất của Chân Lạp lập ra Gia Định và Hà Tiên, thọ 51 tuổi.

      7- Nguyễn Phúc Trú (1725 – 1738), mở mang đất Gia Định và bảo hộ nước Chân Lạp, thọ 43 tuổi.

      8- Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1738 – 1765), đánh Chân Lạp mở thêm đất ở Gia Định, xưng vương hiệu năm 1744 mở đầu cho giai đoạn các chúa Nguyễn xưng vương.

      9- Định Vương Nguyễn Phúc Thuần (1765 – 1777), bị Trương Phúc Loan chuyên quyền, bị họ Trịnh đuổi chạy vào Gia Định rồi bị tướng Tây Sơn bắt giết, thọ 24 tuổi.

      10- Nguyễn Vương Nguyễn Phúc Ánh (1777 – 1802), sau này là vua Gia Long thống nhất sơn hà, mất năm 1 819, thọ 59 tuổi.

      Trong suốt thời các chúa Nguyễn cho đến mười lăm năm đầu dưới triều vua Minh Mạng (1820 – 1840) các đơn vị hành chính có tên là Dinh đều do các vị võ quan cai trị. Các vị quan đó được gọi là quan Trấn thủ hoặc quan Chưởng Dinh. Ngoài ra, các chức vụ quan trọng nắm giữ các vị trí then chốt của dinh cũng đều do các quan võ nắm giữ. Chính vì thế mà các chúa Nguyễn có một lực lượng quân đội gồm thuỷ, lục, tượng binh và kỵ binh hùng mạnh nhất xứ Đàng Trong (Châu Yến Loan – Dinh trấn Thanh Chiêm, kinh đô thứ hai của chúa Nguyễn).

      Trong phạm vi bài này, tôi không đề cập sâu đến vấn đề quân sự nói chung của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong mà chỉ muốn giới thiệu những loại binh khí thời bấy giờ, nay được gọi là binh khí võ cổ truyền, rất đắc dụng trong các cuộc chiến đấu sáp lá cà thời ấy.

      Trước hết là các loại mã tấu, trường đao, bảo kiếm được trang bị cho bộ binh. Những loại binh khí này được chúa Nguyễn mua của các nước Nhật và Bồ Đào Nha.

      Mã tấu sau này được gọi là “mã đao” là một loại đao ngắn có cán gỗ dẹp, dài khoảng 15 cm, lưỡi đao bằng thép dài khoảng 60 cm, ở đoạn rộng nhất khoảng 20 cm, sống đao dày 20 cm, mỏng dần về phía lưỡi chỉ còn như sợi tóc. Khi sử dụng mã đao, binh lính cầm cán đao và lấy vai làm điểm tựa để múa cả cây đao theo hình chữ nhân (X) trong khi xung trận, dựng lưỡi đao thẳng đứng loang vòng quanh thân để phòng thủ gọi là “bảo thân”, chém xuống gọi là “bổ”, chém ngang gọi là “tiệt”, chém xéo gọi là “phạt”, chém lên gọi là “vớt”, cứa ngang gọi là “trừu”, phóng mũi đao tới gọi là “đâm”.

      Trường đao còn gọi là “đại đao”, “thanh long đao”, “siêu” (mặc dù giữa 3 loại trường đao này có khác nhau chút đỉnh về hình thức lưỡi đao). Trường đao có cán mộc thân tròn, dài hơn một sãi tay, lưỡi bằng thép dài khoảng 40 cm đến 50 cm, to bản với bề rộng khoảng 25 cm. Trường đao thường nặng nên chỉ được dùng bởi những người chỉ huy có sức mạnh. Sử dụng trường đao, các tướng lĩnh chém ngược về phía sau gọi là “phản”, chém ngang đầu và lưng gọi là “trảm”, chém từ dưới lên đón đỡ vũ khí địch gọi là “nghinh”, chém thấp ngang chân gọi là “phạt”, đâm tới gọi là “thích”, múa cả cây đao theo chữ X thuận gọi là “loang”, theo chữ X nghịch gọi là “vớt”.

      Bảo kiếm là một loại binh khí có cán gỗ dài từ 15 cm đến 20 cm nhưng không dẹp mà tròn, lưỡi kiếm dài khoảng 0,8 m đến 1,2 m bằng thép tốt được tôi luyện rất kỹ. Lưỡi kiếm Nhật có sống và hơi cong, không giống kiếm của Tàu có lưỡi thẳng, không có sống mà cả hai bên đều là lưỡi bén được gọi là phu kiếm. Kiếm Nhật gần giống gươm của người Việt tự chế nhưng dài hơn gươm. Thủ pháp cốt yếu của kiếm là lấy cổ tay làm điểm tựa trong khi loang, đâm, chém, gạt, đỡ và giữ eo hông mềm mại để dễ bề tránh né, hụp, lặn, bay nhảy.

      Tượng binh thời các chúa Nguyễn có đàn voi chiến lên đến hàng trăm con, mỗi con lớn gấp đôi voi Ấn Độ nên có thể chở 6 người lính và một quản tượng (theo Borri). Tượng binh ngồi thành hai hàng trong một thứ giống cái chòi đặt trên lưng voi và dùng nỏ, súng để giao chiến. Khi xáp lá cà, voi dùng vòi quấn thân giặc, đưa lên cao rồi đập xuống đất làm quân giặc rất khiếp sợ.

      Nỏ là một loại binh khí dùng để chiến đấu ở tầm xa. Nỏ có 3 bộ phận chính: Thân nỏ bằng gỗ chắc, có một thanh dọc thẳng và một thanh ngang hình cánh chim, ở hai đầu cánh được nối với nhau bằng dây nỏ là một sợi dây làm bằng mây hoặc dây rừng có độ đàn hồi được bện thành con tít. Cò là bộ phận “cơ” được gắn vào giữa thanh gỗ dọc. Bộ phận thứ ba là bộ phận rời được gọi là mũi tên có đầu nhọn bịt sắt, ở phần đuôi gắn cật tre vót mỏng làm bánh lái giữ cho mũi tên đi thẳng. Khi muốn bắn, người ta đặt mũi tên vào đường rãnh trên thanh gỗ dọc, mũi tên hướng về phía quân giặc. Kéo dây nỏ cài vào cò nỏ. Kéo cò nỏ cho dây nỏ bật ra và đánh mạnh vào phần đuôi mũi tên, bắn mũi tên bay thẳng về phía quân giặc

      Về Kỵ binh, Cristoforo Borri đã viết “... Hơn nữa, ở xứ sở có nhiều ngựa nhỏ nhưng đẹp và hăng hái mà các chiến sĩ trên lưng ngựa đã chiến đấu bằng cách ném lao vì họ thường xuyên luyện tập vũ khí đó” (Xứ đàng Trong)

      Lao là một loại binh khí dài có cán mộc thân tròn, nhỏ, nhẹ, dài gấp rưỡi sãi tay, mũi lao bằng sắt hoặc đồng, dài chỉ 20 cm nhưng nhọn và nặng nên khi được ném đi lao sẽ bay rất nhanh và ghim sâu, có khi xuyên thủng thân giặc. Người ném lao phải luyện cho cơ tay to, mạnh và đường lao phóng đi chuẩn xác.

      Các thuyền chiến của Thuỷ binh chúa Nguyễn  không rộng lớn như của Tây phương nhưng có thể chở gần 70 lính và tay chèo, lướt sóng rất nhanh theo tiếng gõ của một người lính phụ trách đánh mõ ngồi giữa thuyền (Thích Đại Sán, Hải Ngoại kỷ sự). Binh lính toàn là những trai tráng có tay chèo thiện nghệ được hưởng lương rất cao còn Thuyền trưởng thì đứng ở đầu thuyền là nơi nguy hiểm nhất khi ra trận (Borri, Xứ Đàng Trong). Binh khí chủ yếu để chiến đấu của thuỷ quân là dáo và câu liêm.

      Dáo có hình thức hơi giống lao nhưng cán dáo lớn hơn (bằng cổ tay), cứng và ngắn hơn. Lao dùng để ném vào quân giặc ở tầm xa nhưng dáo được cầm bằng hai tay và đâm thẳng vào đối phương.

      Câu liêm của chúa Nguyễn là một loại binh khí dài từ 5 m đến 6 m với chiếc lưỡi bằng sắt cứng và cong như lưỡi liềm. Câu liêm hết sức lợi hại, được dùng để móc chân, móc cổ quân địch kéo rớt xuống biển và móc vào thuyền của quân địch để nhảy sang cướp thuyền. Khi đã lên được thuyền giặc thì dùng dáo đâm xuyên thân giặc.

      Trong trận đánh với hải quân Hoà Lan vào năm 1644, thuỷ quân trên 50 chiến thuyền của thế tử Nguyễn Phúc Tần (lên ngôi chúa năm 1.648) đã sử dụng rất hữu hiệu câu liêm và dáo để “nhảy ào lên tàu, đẳn cột buồm, chặt bánh lái, dứt đứt dây lèo, khiến cho thuyền trưởng và thuỷ thủ bên địch phải kinh hoàng, thất tán như đứng trước một đàn âm binh từ đâu dưới thuỷ cung đột hiện. Túng thế quân địch phải phá thuyền bằng thuốc súng. Đô đốc Pieter Back cùng 200 thủy thủ nát thịt tan xương” (Lê Thành Khôi, Le Việt Nam, dẫn theo Phan Du, Quảng Nam qua các thời đại – dẫn chứng của Châu Yến Loan).

      Trên các chiến trường trong cuộc chiến sinh tồn và mở mang bờ cõi về phương Nam, khi mà những loại vũ khí cơ giới còn rất thô sơ kể cả súng đại bác, các loại binh khí cổ truyền của dân tộc được quân đội các chúa Nguyễn chọn lọc, cải tiến để sử dụng cho phù hợp với từng loại quân giặc và từng chiến địa đã vô cùng lợi hại, góp phần to lớn mang lại những chiến thắng vinh quang, lừng lẫy một thời ./.

                                                                                       * TXM

Tác giả bài viết: Võ sư Trần Xuân Mẫn
Từ khóa:

n/a

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Hội võ thuật cổ truyền Tỉnh Quảng Nam

                      

CHUẨN BỊ ĐÓN TẾT

CHUẨN BỊ ĐÓN TẾT Được thêm vào: 14:40 ICT Thứ năm, 07/02/2013 LỚP VÕ THUẬT MẦM NON VÕ ĐƯỜNG KỲ SƠN CŨNG ĐANG TẬP LUYỆN ĐỂ BIỂU DIỄN CỜ NGƯỜI CHUNG VỚI CÁC ANH CHỊ LỚN TUỔI TRONG DỊP TẾT QUÍ TỴ SẮP ĐẾN     ...

Liên hệ

Liên hệ võ đường Kỳ Sơn (Tổ đường): 

   51/2 Phan Châu Trinh , Hội An, Quảng Nam, Việt Nam

  +84983 114 769

 kyson160649@gmail.com

Bộ đếm

  • Đang truy cập: 24
  • Khách viếng thăm: 23
  • Máy chủ tìm kiếm: 1
  • Hôm nay: 119
  • Tháng hiện tại: 32542
  • Tổng lượt truy cập: 4919766

Liên Kết

Liên Đoàn Võ Thuật Cổ Truyền Việt Nam

---------------------------------

Từ trái qua phải: Gills Truong, Trần Xuân Mẫn, Huỳnh Hùng Mai


Tâm thức Israel
Mua sách Tâm thức Israel
Đồng phục nhân viên spa
Nhận làm đồng phục Spa đẹp với tiêu chuẩn hiện đại, quý khách có thể tùy ý chọn lựa hay thiết kế kiểu dáng cho phù hợp