CHUYỆN DẠY VÕ TẠI HỘI AN CÁCH NAY TRÊN, DƯỚI NỬA THẾ KỶ

Đăng lúc: Thứ bảy - 11/06/2016 17:29 - Người đăng bài viết: kyson01
Chùa cầu Hội An, ngày xưa

Chùa cầu Hội An, ngày xưa

Hội An Cổ Sự

CHUYỆN DẠY VÕ TẠI HỘI AN

CÁCH NAY TRÊN, DƯỚI NỬA THẾ KỶ

 

                                                                 * Võ sư Trần Xuân Mẫn

      Năm 1965 tôi theo mẹ đến nhà thầy Năm Khê ở cuối xóm Sơn Phong (lúc đó, bà con địa phương thường gọi là xóm “Sơn Phong hạ”) để xin học võ và tôi đã liên tục tập võ ở đây đến cuối năm 1967.

      Từ đầu năm 1968, chiến sự tết Mậu Thân xảy ra rồi chiến tranh ngày càng ác liệt. Sau 4 giờ chiều, bà con ở xóm “Sơn Phong hạ” phải lên phố và ngũ qua đêm để tránh bom đạn cho đến 7 giờ sáng hôm sau mới về lại nhà. Vì lý do đó, lớp tập võ của thầy Khê phải tạm ngưng hoạt động. Để tiếp tục việc tập, một thời gian sau tôi đến xin học với thầy Đội Chưởng tại nhà của thầy mang số 67/10 (ngày nay mang số 51/2) đường Phan Châu Trinh ở trung tâm phố cổ Hội An.

      Sau này, khi đã được thầy Chưởng chọn làm Huấn luyện viên của võ đường Kỳ Sơn do thầy sáng lập vào năm 1973, tôi còn được thầy Chưởng gởi đến học roi Ngũ Môn và Thanh Long đao với những người bạn của thầy là thầy Nguyễn Thời (người sáng lập võ đường Trường An) và thầy Hồ Phước (Phó chủ tịch Liên đoàn Quyền thuật quân khu I).

      Trong thời gian theo học với các vị thầy nói trên cách nay trên, dưới nửa thế kỷ, tôi đã tập võ cổ truyền ở Hội An trong những điều kiện khác khá xa với ngày nay.

      Ngày ấy, các Thầy Võ đều cao niên, từ 60 tuổi trở lên, người nào cũng có quá trình học võ trên 40 năm nhưng không mang đai đẳng, ít người thi đấu võ đài và không có bằng võ sư nhưng được xã hội, nhất là phụ huynh rất tôn trọng, ngưỡng mộ. Khác với võ sư, huấn luyện viên bây giờ, có người chỉ mới 30 tuổi đã có văn bằng võ sư, vừa huấn luyện vừa làm Chủ nhiệm câu lạc bộ võ thuật.

      Nói về Võ đường thì từ năm 1972 về trước ở Hội An có 5 lò võ nhưng không có lò võ nào treo biển hiệu, đặt tên võ đường. Người địa phương có thói quen lấy tên người thầy để phân biệt các lò võ, ví dụ lò thầy Khê, lò thầy Sửu, lò thầy Chưởng…

      Đến năm 1973 mới có 3 lò võ được chính quyền cấp Chứng minh thư công nhận là Võ đường, đó là võ đường Ngũ Phụng Sơn do thầy Nguyễn Khê làm giám đốc, Huỳnh Tiến Lập làm huấn luyện viên; võ đường Kỳ Sơn do thầy Trương Chưởng làm giám đốc, Trần Xuân Mẫn làm huấn luyện viên và võ đường Trường An do thầy Nguyễn Thời làm giám đốc, Nguyễn Kỳ Tâm làm huấn luyện viên.

      Dù là Lò võ hay Võ đường thì thời ấy sân tập chỉ ở nhà thầy chứ không đặt ở các nơi khác như các câu lạc bộ võ thuật hiện nay. Có một trường hợp đặc biệt là thầy Hòa và thầy Trần Do mở lớp tập võ cổ truyền ở trường Trung học Trần Quí Cáp nhưng cũng chỉ duy trì hoạt động một thời gian.

      Các sân tập lúc bấy giờ ở trước hoặc sau nhà thầy, nền sân là đất thịt, xung quanh được rào bằng hàng cây chè Tàu, bên cạnh có chiếc giếng đào để học trò tắm rửa sau khi tập, lại có vườn chuối không phải để lấy quả mà chỉ để lấy thân cây cho học trò đấm đá, rèn luyện chân tay cứng chắc. Dụng cụ tập luyện cũng chỉ có bao đựng cát treo trên xà ngang, cột tre quấn dây thừng chôn xuống đất, tạ đôi, tạ đẩy, một số côn, roi và một ít kiếm, đao làm bằng tre, gỗ (Khác với ngày nay, hầu hết các sân tập võ đều ở sân trường, nhà thiết chế văn hóa… có nền tráng xi-măng. Ngoài dụng cụ để tập còn có các dụng cụ bảo hộ an toàn cho võ sinh như: Thảm su lót nền, găng tay, giáp che thân, mũ che đầu. Binh khí có khá nhiều loại và được làm bằng nhôm xuy bóng khá đẹp).

      Ngày xưa, ở Hội An chỉ có con trai, đàn ông mới đi học võ, phụ nữ học võ chỉ thuộc trường hợp là con gái của các Thầy. Và vì ở sân tập không có nữ nên võ sinh mặc áo quần khi tập rất đơn giản, gần như chỉ có chiếc quần đùi và ở trần chứ không mặc võ phục và mang đai đẳng như võ sinh ngày nay. Thật ra thì từ năm 1973 đến 1975, ở 3 võ đường có giấy phép thành lập là Kỳ Sơn, Ngũ Phụng Sơn và Trường An có tổ chức cho võ sinh mặc võ phục và thi lên đai nhưng việc thi lúc bấy giờ cũng chỉ kiểm tra nội bộ trong võ đường rồi phong đai cho võ sinh, không cấp giấy chứng nhận. Chứng minh thư của Tổng cuộc Quyền thuật Việt Nam chỉ cấp cho Giám đốc và Huấn luyện viên của võ đường.

      Như đã nói ở trên, sân tập võ ngày xưa ở ngay tại nhà riêng của người thầy nên học trò có thể đến tập bất cứ lúc nào và mỗi buổi tập kéo dài đến ba, bốn giờ đồng hồ chứ không phải đợi đến buổi tập mới đến câu lạc bộ, võ đường và chỉ tập khoảng một, hai giờ đồng hồ như bây giờ.

      Học trò đến sân tập thì tự ôn tập những bài đã học. Khi thấy động tác của học trò đã thuần thục, ra đòn thử thách mà học trò đã công, thủ, phản, biến mạch lạc, kịp thời, hiệu quả thì thầy mới dạy bài khác hoặc đòn, thế khác.

      Khi nhập môn, học trò phải qua giai đoạn thử thách, thường là phải mất từ 3 tháng đến 6 tháng hay nhiều hơn. Ở giai đoạn này, thầy dạy các bộ “mạ”, bộ “tấn”. Có người phải xuống tấn bất động trong suốt thời gian cây hương cháy đến lúc tàn, có người phải mài hai bàn chân trên đất thịt cho đến khi cả bàn chân lún sâu xuống dưới mặt đất. Võ sinh cũng phải chịu đau với bài tập “khắc tam tinh” hằng ngày bằng cách va đập tay, chân vào thân cây tre, gỗ, chuối hoặc khắc tay, chân giữa các võ sinh với nhau. Ai thiếu ý chí, thiếu sức chịu đựng và lười biếng thì thường bỏ tập trong giai đoạn này.

      Qua giai đoạn “mạ”, thầy dạy bài quyền nào thì học trò luyện kỹ bài quyền ấy. Mỗi bài có khi mất cả nửa năm tập đi tập lại, có người tập đến mức “nhập tâm”, nằm ngũ mà thấy đang luyện quyền, tay chân đấm đạp vào tường, vào người nằm bên cạnh. Lúc ấy, thầy mới phân thế, chỉ cách sử dụng đòn thế và dặn dò cẩn trọng khi động thủ, đả thương người.

      Cách dạy võ ngày xưa không dựa theo sách vở mà theo sở học nhập tâm của người thầy. Thầy cầm tay học trò, vừa uốn nắn động tác vừa phân tích ý nghĩa đòn, thế theo phép “truyền khẩu”. Người học trò nào có ý tứ thì tự mình ghi chép những điều đã được học vào vở để ôn luyện và lưu giữ về sau.

      Do cách dạy như thế nên người thầy tùy theo tính tình và khả năng của từng người học trò mà truyền thụ khác nhau. Có người xin học trước và tập nhiều năm nhưng vẫn không được thầy dạy nhiều bài bản như người học sau. Có người được thầy dạy chuyên về quyền nhưng cũng có người được dạy chuyên về roi, đao, kiếm… Có người được dạy chỉ để đưa lên đấu võ đài hoặc để tự vệ, phòng thân nhưng có người được dạy chương trình chỉnh chu từ thấp đến cao, cả võ thuật, võ y, võ lý… để kế nghiệp về sau. Tóm lại, ngày xưa thầy nhắm tướng, xem tính từng người học trò mà giảng dạy, cho nên dù không tổ chức mặc võ phục, không thi đai đẳng (trước 1972) nhưng có nhiều người sau này trở thành võ sư có kiến thức sâu rộng và võ sĩ có tài nghệ hơn người.

      Ngày nay, do võ sinh dành nhiều thời gian cho việc học văn hóa ở trường hoặc công việc sinh kế ngoài đời, chỉ đến câu lạc bộ, võ đường mỗi ngày chưa đến 2 giờ đồng hồ, mà mỗi tuần cũng chỉ đến hai, ba lần, nên huấn luyện viên phải dạy đồng loạt một bài bản chung cho nhiều võ sinh trong một lớp, có khi dạy bài quyền mà không phân thế chiến đấu.

      Cuối cùng, mục đích học võ ngày xưa cũng khác bây giờ.

      Nếu bây giờ, học võ để rèn luyện thân thể hoặc thi đấu giành huy chương thì cách nay trên, dưới nửa thế kỷ, mục đích chủ yếu của việc học võ là để tự vệ.

      Ngày ấy, cha mẹ đưa con đến nhà thầy xin học đều thưa rõ: Tôi đưa cháu đến để nhờ thầy dạy cho đôi “miếng” phòng thân, ra đường khỏi bị người hiếp đáp. Thời buổi loạn lạc, xã hội bất ổn thì cha mẹ lo lắng cho sự an nguy của con cũng là dễ hiểu. Điều đáng nói là chính vì mục đích học võ cần cấp như thế nên buổi tập nào các võ sinh cũng phải quầng, vợt với nhau, tay chân bầm tím, mặt mũi lấm lem, bị chấn thương thì bóp thuốc trật đả, ăn đường đen, uống nhiều nước lã cho thông khí, hoạt huyết, tan máu bầm, nghỉ vài hôm rồi trở lại nhà thầy để tập tiếp.

      Với mục đích học võ nặng về chiến đấu, thực dụng nên ngày xưa võ sinh học ít mà luyện nhiều, cha mẹ đã gởi con cho thầy thì tùy thầy quyết định. Chỉ có những dịp như mồng năm tết Đoan Ngọ và tháng chạp chuẩn bị đón Tết Ãm lịch thì phụ huynh mới đến nhà thầy để cám ơn, biếu gói trà, bao thuốc hoặc con gà, cặp vịt chứ không thường xuyên đến câu lạc bộ xem con tập võ như cha mẹ võ sinh ngày nay.

      “Ôn cố tri tân”, nhắc chuyện cũ rồi so sánh với chuyện mới để thấy sự việc gì cũng ở mỗi thời mỗi khác. Sự đã qua khó tìm lại được nhưng sự mới cũng phải dựa vào sự cũ làm nền để soi rọi, mở mang cho phù hợp với thời cuộc mà không mất bản sắc vốn có ./.

                                                                                       * TXM​

Tác giả bài viết: Võ sư Trần Xuân Mẫn
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Hội võ thuật cổ truyền Tỉnh Quảng Nam

                      

CHUẨN BỊ ĐÓN TẾT

CHUẨN BỊ ĐÓN TẾT Được thêm vào: 14:40 ICT Thứ năm, 07/02/2013 LỚP VÕ THUẬT MẦM NON VÕ ĐƯỜNG KỲ SƠN CŨNG ĐANG TẬP LUYỆN ĐỂ BIỂU DIỄN CỜ NGƯỜI CHUNG VỚI CÁC ANH CHỊ LỚN TUỔI TRONG DỊP TẾT QUÍ TỴ SẮP ĐẾN     ...

Liên hệ

Liên hệ võ đường Kỳ Sơn (Tổ đường): 

   51/2 Phan Châu Trinh , Hội An, Quảng Nam, Việt Nam

  +84983 114 769

 kyson160649@gmail.com

Bộ đếm

  • Đang truy cập: 14
  • Khách viếng thăm: 11
  • Máy chủ tìm kiếm: 3
  • Hôm nay: 2408
  • Tháng hiện tại: 71876
  • Tổng lượt truy cập: 5196831

Liên Kết

Liên Đoàn Võ Thuật Cổ Truyền Việt Nam

---------------------------------

Từ trái qua phải: Gills Truong, Trần Xuân Mẫn, Huỳnh Hùng Mai