QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN VÕ CỔ TRUYỀN Ở HỘI AN

Đăng lúc: Thứ ba - 02/06/2015 22:02 - Người đăng bài viết: kyson01
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN VÕ CỔ TRUYỀN Ở HỘI AN

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN VÕ CỔ TRUYỀN Ở HỘI AN

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH

VÀ PHÁT TRIỂN VÕ CỔ TRUYỀN Ở HỘI AN

(Trích tài liệu nghiên cứu bước đầu “Võ cổ truyền ở Hội An” của VS Trần Xuân Mẫn)

 

        Giai đoạn sơ khai

      Trước năm 1306, khi chưa sát nhập vào Đại Việt, đất cũ Hội An đã từng có nền võ thuật phát triển cao kéo dài hằng mấy trăm năm trong quân đội của ba vương triều Chămpa: Gangaragia, Panduranga và Indrapura. Trong triều đại của vua Chế Bồng Nga, người Chăm đã hai lần đánh chiếm Thăng Long vào năm 1371 và 1378. Vào năm 1383, người Chăm còn chiếm giữ Thăng Long, thủ đô của Việt Nam, trọn sáu tháng trời. Nhiều nhà vua Việt Nam đã phải chạy trốn và nhiều tướng lãnh cầm quân, kể cả Hồ Quý Ly cũng phải liên tiếp lui quân khi giáp trận với họ [1].

      Trước thế kỷ thứ XV, khi người Việt, chủ yếu là cư dân vùng Thanh Nghệ, đi theo chúa Nguyễn mở rộng đất về phương Nam, đã mang theo nền võ thuật cổ truyền dân tộc. “Phương tiện” tự vệ, chiến đấu này luôn được trui rèn, biến hóa, nâng cao để phù hợp với công cuộc đấu tranh tồn tại trên một vùng đất mới chịu nhiều tác động nghiệt ngã: Rừng thiêng nước độc, dã thú, thiên tai, chiến tranh giằng co giữa các thế lực chính trị. Chính yếu tố cọ xác thường xuyên để sinh tồn đó đã tạo điều kiện cho võ cổ truyền Xứ Đàng Trong (trong đó có Hội An) trong giai đoạn sơ khai định hình nhanh và dung hợp cả những kỹ thuật tinh hoa của nền võ thuật Champa. “Hình bóng” của võ Champa ngày nay còn lại ở bộ tay bông quyền “hoa sen”, “thác thiên”, “án địa” và các bộ tấn “miêu tấn”, “qui tấn”, “xà tấn”, “hạc tấn” được thấy rải rác trong vài bài quyền cổ bản ở Hội An như Ngọc Trản, Lão Mai, Phụng Hoàng…

      Giai đoạn định hình

      Thời Chúa Nguyễn Phúc Nguyên mới mở Hội An và xây dựng thành thương cảng sầm uất từ năm 1602 đến hết nửa đầu thế kỷ XVII, người Nhật đến lập phố lưu cư, buôn bán trước đó (khoảng 1598? [2]) đã giúp Chúa Nguyễn củng cố binh quyền. Các võ sĩ Nhật tuyệt giỏi võ thuật, vũ khí của họ vô cùng tinh xảo nên các Chúa Nguyễn rất trọng dụng, mời họ huấn luyện võ nghệ và chế tác các loại bửu đao, bửu kiếm [3]. Kỹ thuật bài bản võ cổ truyền ở Hội An hiện nay cho thấy Võ thuật của người Nhật tuy đặc sắc nhưng không có ảnh hưởng và đóng góp gì vào sự hình thành võ cổ truyền Hội An, lý do là vì Võ Nhật chỉ thịnh hành trong hàng ngũ tướng sĩ của Chúa Nguyễn chứ không thâm nhập vào đời sống của dân chúng.

      Nửa sau thế kỷ XVII, phố Nhật suy tàn dần đến cuối thế kỷ XVII thì hầu như không còn nữa. Trong quãng thời gian này, Hoa kiều đổ sang xứ Đàng Trong, nhất là từ Quảng Nam trở vào, sinh sống bằng con đường giao thương với người Việt qua biển Đông. Họ mang theo nhân tài, vật lực, nhiều nghề tinh xảo của họ du nhập vào Hội An.

      Chỉ vài mươi năm sau, công việc thương mại phát đạt đã tạo nên nhiều thương gia người Hoa giàu có đến mức có thể bỏ tiền chiêu mộ binh lính, tổ chức đạo quân do Lý Tài cầm đầu, lúc đầu ủng hộ Nguyễn Nhạc phò tá hoàng tôn Nguyễn Phước Dương (hậu duệ chúa Nguyễn) về Hội An, về sau lại trở cờ chống Tây Sơn. Trong thời gian này, đông đảo người Hoa đã lập gia đình và làm đơn xin chúa Nguyễn cho phép lập ra làng Minh Hương để định cư hẳn trên đất Hội An. Người Hoa vừa thông qua công tác huấn luyện đạo quân Lý Tài vừa thông qua việc bán thuốc bắc và biểu diễn võ thuật để quảng bá võ cổ truyền của họ. Tuy nhiên, chỉ sau một thời gian không lâu, võ thuật Trung Hoa không tồn tại biệt lập mà được chuyển hóa từ đặc trưng cương ngạnh, dựa vào sức mạnh, sang nghệ thuật chiến đấu “cương nhu phối triển” của người Việt và hòa nhập vào các dòng võ truyền thống thuần Việt, góp phần làm đa dạng nền võ thuật cổ truyền ở Hội An.

      Còn có một yếu tố nữa làm võ cổ truyền Xứ Đàng Trong - Quảng Nam - Hội An thời kỳ sơ khai chuyển nhanh sang giai đoạn định hình là vào thời ấy chính quyền đặt nặng “võ công” hơn là “văn trị”. Theo bài viết “Phan Thanh Giản và Quảng Nam” của Nguyễn Văn Xuân: Lúc tiến sĩ Phan Thanh Giản nhận giữ chức vụ cao ở Quảng Nam thì Quảng Nam còn chịu ảnh hưởng tư tưởng trọng võ khinh văn của thời các chúa lấy dinh trấn Thanh Chiêm hay Quảng Nam làm cơ sở bàn đạp tấn công cả Nam lẫn Bắc suốt mấy trăm năm. Theo luận án tiến sĩ “Xứ Đàng Trong” của Li Tana: Đàng Trong được tổ chức như một chế độ quân sự, đặc biệt vào thế kỷ 17. Vua là người lãnh đạo cao nhất của lực lượng vũ trang hay đúng hơn, người ta chỉ có thể làm vua với tính cách là tướng lĩnh tổng chỉ huy quân đội. Như Choisy đã ghi nhận vào năm 1685, Đàng Trong đã được thiết lập và duy trì trên nền tảng quân sự. Cả nước được đặt dưới quyền kiểm soát của các quan võ [4].

      Trong thời kỳ này, quân đội đã có súng ống, trọng pháo nhưng số lượng vũ khí còn ít, kỹ thuật chế tác lại thô sơ, không thực dụng. Poivre viết vào thập niên 1740: “Người Đàng Trong không biết sử dụng đại bác sao cho có lợi. Mỗi khẩu không có được tới 6 tay súng giỏi và đa số các quả đạn lại không đúng kích thước. Cuộc khởi nghĩa của Tây Sơn đã chứng thực cho nhận xét này của Poivre” [5]. Điều đó cho thấy ở giai đoạn này võ cổ truyền (điển hình là Võ Tây Sơn) với “thập bát ban võ nghệ” bao gồm côn, kiếm, siêu, đao, cỡi ngựa bắn cung… vẫn giữ vai trò quyết định sự thắng bại của người chiến sĩ ở trận mạc.

      Từ năm 1775, nhà Tây Sơn đưa quân đến Hội An rồi trấn giữ Quảng Nam một thời gian dài, nhất là giai đoạn từ năm 1787 về sau khi đất Quảng Nam thuộc về triều đình Phú Xuân của Nguyễn Huệ, Quảng Nam - Hội An có cơ hội tiếp thu dòng võ Tây Sơn vô địch phát triển cực kỳ rực rỡ và tồn tại mãi về sau, kể cả trong 143 năm dưới triều các vua nhà Nguyễn.

      Các tư liệu cổ và sách “Miêu tả lịch sử xứ Đàng Trong” đều đề cập: ”Hầu hết các binh lính Tây Sơn rất thông thạo binh pháp, võ nghệ cao cường và rất trung thành với cấp chỉ huy. Khi xung trận, họ thường sử dụng nhiều loại binh khí độc hiểm, mới lạ và luôn tin tưởng vào tài nghệ võ công, trình độ sử dụng binh khí của họ, nhất là khả năng đánh cận chiến, đánh trên lưng ngựa, lưng voi, dưới chiến thuyền, đầm lầy, sông nước…”[6]

      Qua công tác điều tra, khai quật khảo cổ tại Hội An trong những năm gần đây, nhiều ngôi mộ của các Đô đốc (võ quan cấp cao thời Tây Sơn) tại các phường Thanh Hà, Sơn Phong và ngôi mộ bà thứ phi vua Quang Trung cùng những ngôi mộ tướng lãnh Tây Sơn cao cấp tại thôn 5 xã Cẩm Thanh đã lần lượt được phát hiện;

      Theo số liệu sưu tầm, thống kê, phân loại thì hầu hết các bài bản bao gồm các thảo, các bộ, các kỹ thuật đặc trưng, các bài thiệu và các phương pháp truyền dạy tập luyện chiến đấu cùng các chủng loại binh khí của võ cổ truyền ở Hội An đều là Võ Tây Sơn;

      Kết quả điều tra, khai quật khảo cổ và số liệu sưu tầm, thống kê, phân loại như trên cho thấy Võ Tây Sơn có vai trò khung sườn, chủ đạo và chiếm  tuyệt đại bộ phận võ cổ truyền ở Hội An.

      Giai đoạn bị cấm hoạt động

      Dưới thời Pháp thuộc, vũ khí cơ giới mà quân đội Pháp sử dụng để đàn áp những cuộc nổi dậy của nhân dân ta đã khá tối tân nhưng một số binh khí võ cổ truyền vẫn còn hữu dụng trong chiến tranh du kích, nhất là khi đánh xáp lá cà như: mác, rựa, gươm, kiếm, gậy tầm vông vạt nhọn (biến thể của giáo), mã tấu (biến thể của mã đao), câu liêm (biến thể của đơn câu); ở Tây nguyên và miền núi thì còn có cung, nỏ, ná…kết hợp với các miếng võ “Cầm nả thủ” như bắt, bẻ, trói nên thực dân Pháp nghiêm cấm nhân dân ta tập võ dân tộc. Việc nghiêm cấm này đã làm suy thoái dẫn đến mất hẳn phong trào tập võ cổ truyền trong nhân dân một thời gian dài. Nhiều bài bản đã bị thất truyền, nhiều vũ khí và dụng cụ chuyên dùng trong rèn luyện võ thuật đã bị phá bỏ.

      Tại Hội An, sau một thời gian thấy người Pháp đã lơ là việc theo dõi, bố ráp người tập võ; các võ sư, võ sĩ lại bí mật tổ chức tập luyện và truyền dạy võ cổ truyền ở nơi thanh vắng, hẻo lánh, xa chốn đô thị như sân chùa, nghĩa địa, cửa suối, đồng xa; lúc đầu là dạy con cháu trong gia đình, sau đó mở rộng ra dòng họ, làng xã. Chính vì người Hội An thời ấy bí mật tập võ và dạy võ nên đến nay câu chuyện “Mấy ông thầy võ đánh lộn với ma” vẫn còn nghe nhắc đến. Thực ra, việc đánh lộn với ma chỉ là câu chuyện do nhân dân đặt ra, phao tin để “qua mặt” chính quyền thực dân nhằm che giấu việc các thầy tụ tập rèn luyện võ cổ truyền đêm khuya ở khuôn viên nghĩa địa. 

      Khi phong trào toàn quốc kháng chiến nổ ra, nhiều võ sư như Hà Sửu (Năm Sửu), Nguyễn Khê (Năm Khê), Trương Chưởng (Đội Chưởng) đã nhận nhiệm vụ truyền dạy cho dân quân, du kích, thanh niên những bài võ thực dụng để tham gia chiến đấu và nổi dậy cướp chính quyền năm 1945. Riêng thầy Đội Chưởng đã dạy võ cho quân nhân dưới quyền từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 đến năm 1952 khi ông gia nhập Giải phóng quân rồi lên đường Nam tiến với chức vụ Đại đội trưởng, sau về lại Quảng Nam nhận các nhiệm vụ Tỉnh đoàn trưởng cảnh vệ, Giám đốc lao xá Tiên Hội và Uỷ viên kinh tài xã đặc biệt Tam Kỳ [7].

      II.1.4. Giai đoạn phục hồi

      Vào khoảng năm 1925, người Pháp đưa Quyền Anh vào Đông Dương và dựng võ đài tổ chức thi đấu, ban đầu là trong quân đội, sau đó mở rộng ra bên ngoài nhằm cổ súy phát triển môn võ phương Tây này. Các võ sĩ Việt Nam vừa tập Quyền Anh để thượng đài thi đấu vừa tập võ cổ truyền tay không với lý do là để tăng thể lực và bổ sung kỹ thuật tránh né cho môn Quyền Anh. Về sau, nhất là sau khi có nhiều võ sĩ Việt Nam xuất sắc đánh thắng đo ván (knock-out) các võ sĩ người Miên, người Thái và cả võ sĩ người châu Âu trong các giải Vô địch Quyền Anh ở ba miền Bắc, Trung, Nam kỳ và Vô địch ba nước Đông Dương, người Pháp chịu để cho người Việt Nam tập Võ cổ truyền nhưng chỉ là võ cổ truyền tay không và cho phép tổ chức các võ đài “Võ Tự Do”. Cách thi đấu “Võ Tự Do” lúc bấy giờ được hiểu là di chuyển hai chân theo bộ pháp Quyền Anh (di chuyển bằng hai ức bàn chân trên sàn võ đài), đấm hai tay theo 3 đòn tay Quyền Anh (đấm thẳng, đấm vòng, đấm móc) cộng với việc được phép dùng chân để đá, đạp cản và hạ thấp người xuống dưới thắt lưng (luật Quyền Anh không cho phép) để hụp, lặn, hốt ngựa (bắt chân, đánh ngã đối thủ). Từ thời điểm này đến trước khi cách mạng tháng Tám nổ ra, nhiều võ đài Võ Tự Do được dựng lên ở Hội An tại khu đất nằm trên đường Phan Đình Phùng hiện nay, ở về phía tây đình Xuân Lâm, thu hút nhiều võ sĩ thời danh của Quảng Nam thượng đài như: Chánh Lơn, Hồ Cưu, Bùi Hý, Năm Sửu, Trương Khả, Lê Hoan, Lưu Thanh Bình, Tư Phụng, Nguyễn Bầu… Những thương gia giàu có như các ông Vương Sỹ, Vưu Minh là những mạnh thường quân thường xuyên tài trợ và mời các võ sĩ danh tiếng của Quảng Nam, Quảng Ngãi và Thừa Thiên đến Hội An thi đấu.

      Sau năm 1954, một số võ sư lớn tuổi như Nguyễn Khê, Trương Chưởng, Hà Sửu, Nguyễn Thời, Trần A Hòa truyền dạy võ thuật dưới hình thức gia truyền.

      Năm 1973, thầy Trương Chưởng thành lập võ đường Kỳ Sơn tại nhà số 67/10 (nay là 51/2) Phan Châu Trinh, thầy Nguyễn Khê thành lập võ đường Ngũ Phụng Sơn tại xóm hạ Sơn Phong, nay là nhà số 32/5 Nguyễn Duy Hiệu, thầy Nguyễn Thời thành lập võ đường Trường An tại kiệt số 1 đường Huỳnh Thúc Kháng (nay là đường Hùng Vương). Các võ đường hoạt động dưới sự quản lý của Liên đoàn Quyền thuật quân khu I thuộc Tổng cuộc Quyền thuật Việt Nam. Thời gian này, thầy Trần A Hòa với sự giúp đỡ của học trò là thầy giáo Trần Do, đã mở lớp võ thuật Thiếu Lâm tại trường trung học Trần Quý Cáp Hội An.

      Giai đoạn phát triển

      Sau ngày đất nước thống nhất, nhất là từ năm 1988 khi có chủ trương phát triển các môn võ đến nay, mười hai câu lạc bộ võ thuật cổ truyền lần lượt được thành lập tại Hội An, hoạt động thường xuyên và tổ chức có nề nếp bền vững: CLBVT Minh An, CLBVT Ngũ Phụng Sơn, CLBVT Vạn Xuân, CLBVT Cẩm Châu, CLBVT Phi Điểu, CLBVT Hoàng Lộc, CLBVT Liên Hoa Huyền Linh, CLBVT Thanh Sơn, CLBVT Nhà Thiếu Nhi (về sau đổi thành CLBVT Kỳ Sơn), CLBVT Cẩm Phô (về sau đổi thành CLB Thiếu Lâm Hồng Gia), CLBVT Cẩm Nam, CLBVT Cẩm Kim. Trong vòng từ năm 1990 đến nay, các võ sĩ Hội An đã tham gia thi đấu thường xuyên các giải võ thuật toàn tỉnh và trong hơn mười năm liền đã được tuyển chọn vào đội tuyển võ cổ truyền tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam thi đấu các giải toàn quốc. Thành tích của võ cổ truyền Hội An đã được chứng minh bằng gần 200 huy chương, trong đó có 30 huy chương cấp quốc gia, 2 kiện tướng và 3 vận động viên cấp 1.

      Đặc biệt, khi Hội An được Unesco công nhận là di sản văn hóa thế giới vào tháng 12 năm 1999, võ thuật cổ truyền đã góp phần không nhỏ vào hoạt động khôi phục các giá trị văn hóa truyền thống của địa phương. Hàng ngàn lượt võ sinh đã tham gia vào các buổi diễn xướng sân khấu hóa, đồng diễn võ thuật tại các lễ hội trong nhiều năm liền. Càng về sau, một số câu lạc bộ võ thuật đã mở rộng hoạt động sang các lĩnh vực khai thác, ứng dụng võ cổ truyền để phục vụ du lịch ngày càng phát triển tại Hội An./.

_____________________________________________________________

      [1] “Xứ Đàng Trong” của Li Tana, nhà xuất bản Trẻ, trang 27

     [2] “Đô thị thương cảng Hội An”, Đăng Trường biên soạn. Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin, trang 26.

      [3] “Hội An” của Nguyễn văn Xuân

      [4] “Xứ Đàng Trong” của Li Tana, Nguyễn Nghị dịch, trang 64

      [5] “Xứ Đàng Trong” của Li Tana, Nguyễn Nghị dịch, trang 73

      [6] “Lịch sử võ học Việt Nam’ của Phạm Phong, trang 88

     [7] Hồ sơ cá nhân xét cấp Huy chương kháng chiến hạng I và Huân chương kháng chiến hạng III của cố võ sư Trương Chưởng

 

 

 

 

Tác giả bài viết: Võ sư Trần Xuân Mẫn
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Hội võ thuật cổ truyền Tỉnh Quảng Nam

                      

CHUẨN BỊ ĐÓN TẾT

CHUẨN BỊ ĐÓN TẾT Được thêm vào: 14:40 ICT Thứ năm, 07/02/2013 LỚP VÕ THUẬT MẦM NON VÕ ĐƯỜNG KỲ SƠN CŨNG ĐANG TẬP LUYỆN ĐỂ BIỂU DIỄN CỜ NGƯỜI CHUNG VỚI CÁC ANH CHỊ LỚN TUỔI TRONG DỊP TẾT QUÍ TỴ SẮP ĐẾN     ...

Liên hệ

Liên hệ võ đường Kỳ Sơn (Tổ đường): 

   51/2 Phan Châu Trinh , Hội An, Quảng Nam, Việt Nam

  +84983 114 769

 kyson160649@gmail.com

Bộ đếm

  • Đang truy cập: 64
  • Hôm nay: 2515
  • Tháng hiện tại: 32182
  • Tổng lượt truy cập: 4959116

Liên Kết

Liên Đoàn Võ Thuật Cổ Truyền Việt Nam

---------------------------------

Từ trái qua phải: Gills Truong, Trần Xuân Mẫn, Huỳnh Hùng Mai